422 dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí

11:52 10/07/2019

Không chỉ số lượng dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí còn lớn, cũng còn một số lượng khá lớn dự án không có hiệu quả.

422 dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí

Báo cáo Chính phủ về công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vẫn còn rất nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước có vi phạm, gây thất thoát, lãng phí.

Cụ thể, qua kiểm tra, trong năm đã phát hiện 25 dự án vi phạm quy định về thủ tục đầu tư; 54 dự án vi phạm về quản lý chất lượng; 422 dự án có thất thoát, lãng phí; 450 dự án phải ngừng thực hiện.

Không chỉ tổng hợp số lượng dự án có vi phạm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn “điểm mặt, chỉ tên” các địa phương có nhiều dự án gây thất thoát, lãng phí. 

Nhiều nhất là tỉnh Bắc Giang - có 196 dự án, tiếp đó là Phú Thọ - có 111 dự án, Quảng Ngãi - có 58 dự án. 

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì các dự án có thất thoát lãng phí chủ yếu là các chi phí không hợp lý, được phát hiện trong giai đoạn thanh, quyết toán, kiểm toán.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, trong năm 2018 có 56.567 dự án sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư. Trong đó, có 23.618 dự án chuyển tiếp, chiếm 41,8%; 32.949 dự án khởi công mới, chiếm 58,2%.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2018, có 30.521 dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, chiếm 54% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, trong số các dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, có 245 dự án có vấn đề về kỹ thuật, không có hiệu quả.

Theo số liệu mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp được, năm 2018 có 1.778 dự án chậm tiến độ, chiếm 3,1% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ (trong đó số dự án nhóm A là 32 dự án, nhóm B là 382 dự án, nhóm C là 1.364 dự án). 

Các nguyên nhân chậm tiến độ chủ yếu là do công tác giải phóng mặt bằng (863 dự án, chiếm 1,5% số dự án thực hiện trong kỳ); do thủ tục đầu tư (372 dự án, chiếm 0,7% số dự án thực hiện trong kỳ); do bố trí vốn không kịp thời (278 dự án, chiếm 0,49% số dự án thực hiện trong kỳ); do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu (142 dự án, chiếm 0,25% số dự án thực hiện trong kỳ) và do các nguyên nhân khác (759 dự án, chiếm 1,34%  số dự án thực hiện trong kỳ).

Trong năm 2018, cũng đã có tới 2.434 dự án thực hiện đầu tư trong năm phải điều chỉnh, chiếm 4,3% tổng số dự án thực hiện trong kỳ.

Trong đó, chủ yếu là các dự án phải điều chỉnh mục tiêu, quy mô đầu tư (1.147 dự án, chiếm 2% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh tiến độ đầu tư (881 dự án, chiếm 1,58% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh vốn đầu tư (798 dự án, chiếm 1,4% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh do các nguyên nhân khác (790 dự án, chiếm 1,37% số dự án thực hiện trong kỳ). 

Tổng hợp số liệu báo cáo của các cơ quan, trong năm 2018 có 43.344 dự án trên tổng số 56.567 dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư trong kỳ thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư, đạt tỷ lệ 76,6%.

Trong năm 2018, các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành kiểm tra 15.639 dự án (chiếm 27,8% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ), tổ chức đánh giá 22.265 dự án (chiếm 39,57% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ).

Theo số liệu tổng hợp của các cơ quan trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, trong năm 2018, các cơ quan đã ưu tiên bố trí trả nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước theo quy định của Luật Đầu tư công. 

Tổng số vốn thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản trong năm là 12.050 tỷ đồng. Số nợ đọng xây dựng cơ bản còn lại là 12.554 tỷ đồng. 

Một số đơn vị còn nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn, như Hà Giang (709 tỷ đồng), Thái Nguyên (2.035 tỷ đồng), Phú Thọ (1.463 tỷ đồng), Hòa Bình (111 tỷ đồng), Bắc Giang (124 tỷ đồng)...

“Các đơn vị trên cần rà soát, làm rõ số nợ đọng xây dựng cơ bản đến thời điểm hiện nay có thuộc đối tượng được thanh toán theo Điều 106 Luật Đầu tư công hay không. Trường hợp số nợ đọng phát sinh sau ngày 01/01/2015 là không phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong thời gian qua, công tác quản lý đầu tư từ ngân sách Trung ương được chấn chỉnh và có nhiều chuyển biến tích cực, nguồn vốn ngân sách được bố trí tập trung hơn, hiệu quả đầu tư bước đầu được nâng cao. Việc đầu tư từ các nguồn vốn nhà nước khác, đặc biệt từ nguồn vốn ngân sách địa phương và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước đã bước đầu có chuyển biến. 

Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Chẳng hạn, thời gian thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư còn dài, một số quy định còn bất cập; công tác giải phóng mặt bằng một số dự án còn chậm; nhiều dự án còn chậm tiến độ, phải điều chỉnh…